Người
Cơ-lốt
Hoàng đế La Mã thứ tư. Ông kế vị Caligula (năm 41 SCN). Mặc dù nhìn chung ông đối đãi với người Do Thái, đặc biệt là những người ở Tiểu Á và Ê-díp-tô, rất khoan dung, nhưng vào khoảng giữa triều đại của mình (năm 49 SCN), ông đã trục xuất toàn bộ họ ra khỏi thành Rô-ma (Công-vụ các Sứ-đồ 18:2). Chiếu chỉ này cũng bao gồm cả các tín đồ Cơ Đốc, vì khi ấy họ bị xem là một giáo phái của người Do Thái. Tuy nhiên, người Do Thái đã sớm quay trở lại Rô-ma sau đó.
Trong triều đại của vị hoàng đế này, người Do Thái đã thực hiện nhiều cuộc bức hại các tín đồ Cơ Đốc trong lãnh thổ của Hê-rốt Ạc-ríp-ba, một trong số đó là vụ sứ đồ Gia-cơ bị “giết” (Công-vụ các Sứ-đồ 12:2). Ông băng hà năm 54 SCN.
Nguồn: Từ điển Kinh Thánh Easton
Cây gia phả
Hãy lần theo dấu vết gia đình của Cơ-lốt qua nhiều thế hệ, từ tổ tiên và họ hàng đến những người có liên quan đến cuộc sống của họ. Theo dõi từng nhánh gia đình xa nhất có thể theo như Kinh Thánh ghi chép.
Biểu đồ mối quan hệ
Vị trí của Cơ-lốt trong câu chuyện rộng lớn hơn của Kinh Thánh, kết nối những người, địa điểm, gia đình và sự kiện gắn liền với cuộc đời họ. Hãy xem những mối quan hệ này chồng chéo lên nhau và tạo thành một bức tranh tổng thể như thế nào thay vì những danh sách riêng lẻ.
Dẫn chiếu Kinh Thánh
2 câu Kinh Thánh đề cập đến Cơ-lốt
| Dẫn chiếu | Câu Kinh Thánh |
|---|---|
| Acts 11:28 | And there stood up one of them named Agabus, and signified by the Spirit that there should be great dearth throughout all the world: which came to pass in the days of Claudius Caesar. |
| Acts 18:2 | And found a certain Jew named Aquila, born in Pontus, lately come from Italy, with his wife Priscilla; (because that Claudius had commanded all Jews to depart from Rome:) and came unto them. |
1–2 của 2 câu Kinh Thánh