Địa điểm

Ê-lát-Sê-li-sia

Số câu nhắc đến:
2

Tiếng Hê-bơ-rơ là ‘eglah, (Phục-truyền Luật-lệ Ký 21:4, 6; Giê-rê-mi 46:20). Chưa quen mang ách (Ô-sê 10:11); cho sữa (Ê-sai 7:21); cày ruộng (Các Quan Xét 14:18); đạp lúa (Giê-rê-mi 50:11); không chịu khuất phục dưới ách, là biểu tượng của Giu-đa (Ê-sai 15:5; Giê-rê-mi 48:34).

Tiếng Hê-bơ-rơ là parah (Sáng-thế Ký 41:2; Dân-số Ký 19:2). Mang ách (Ô-sê 4:16); “bò cái Ba-san” (A-mốt 4:1), ẩn dụ cho những phụ nữ phóng đãng ở Sa-ma-ri. Lễ dâng “bò cái tơ sắc đỏ” được mô tả trong Dân-số Ký 19:1-10; so sánh Hê-bơ-rơ 9:13.

Biểu đồ mối quan hệ

Vị trí của Ê-lát-Sê-li-sia trong câu chuyện rộng lớn hơn của Kinh Thánh, kết nối những người, địa điểm, gia đình và sự kiện gắn liền với cuộc đời họ. Hãy xem những mối quan hệ này chồng chéo lên nhau và tạo thành một bức tranh tổng thể như thế nào thay vì những danh sách riêng lẻ.

Đang tải biểu đồ mối quan hệ…

Dẫn chiếu Kinh Thánh

2 câu Kinh Thánh đề cập đến Ê-lát-Sê-li-sia

Dẫn chiếu Câu Kinh Thánh
Isaiah 15:5 My heart shall cry out for Moab; his fugitives shall flee unto Zoar, an heifer of three years old: for by the mounting up of Luhith with weeping shall they go it up; for in the way of Horonaim they shall raise up a cry of destruction.
Jeremiah 48:34 From the cry of Heshbon even unto Elealeh, and even unto Jahaz, have they uttered their voice, from Zoar even unto Horonaim, as an heifer of three years old: for the waters also of Nimrim shall be desolate.

1–2 của 2 câu Kinh Thánh