Địa điểm
Rê-pha-im
Những người cao lớn; người khổng lồ, (Sáng-thế Ký 14:5; 2 Sa-mu-ên 21:16, 18, ghi chú A.V. là Rapha, ghi chú R.V. là Raphah; Phục-truyền Luật-lệ Ký 3:13, R.V.; A.V., “người khổng lồ”). Cư dân bản địa của Ca-na-an, về sau bị các bộ tộc Ca-na-an chinh phục và truất quyền sở hữu, được xếp chung dưới tên gọi tổng quát này. Dân Mô-áp gọi họ là người Ê-mim, nghĩa là “đáng sợ” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 2:11), và dân Am-môn gọi họ là người Xam-xu-mim. Một số người trong họ đã tìm nơi ẩn náu giữa dân Phi-li-tin, và vẫn còn tồn tại vào thời Đa-vít. Chúng ta không biết gì về nguồn gốc của họ. Họ không nhất thiết có liên hệ với “người khổng lồ” (R.V., “Nê-phi-lim”) trong Sáng-thế Ký 6:4.
Biểu đồ mối quan hệ
Vị trí của Rê-pha-im trong câu chuyện rộng lớn hơn của Kinh Thánh, kết nối những người, địa điểm, gia đình và sự kiện gắn liền với cuộc đời họ. Hãy xem những mối quan hệ này chồng chéo lên nhau và tạo thành một bức tranh tổng thể như thế nào thay vì những danh sách riêng lẻ.
Dẫn chiếu Kinh Thánh
1 câu Kinh Thánh đề cập đến Rê-pha-im
| Dẫn chiếu | Câu Kinh Thánh |
|---|---|
| Deuteronomy 3:13 | And the rest of Gilead, and all Bashan, being the kingdom of Og, gave I unto the half tribe of Manasseh; all the region of Argob, with all Bashan, which was called the land of giants. |
1–1 của 1 câu Kinh Thánh