Người
Sanh-môn
Bóng râm; hoặc Sanh-môn (xem mục này), một ngọn đồi phủ đầy rừng rậm tăm tối ở phía nam Si-khem, nơi A-bi-mê-léc cùng thuộc hạ đã đẵn củi để thiêu rụi thành ấy (Các Quan Xét 9:48). Trong Thi-thiên 68:14, sự chuyển biến từ chiến tranh sang hòa bình được ví như tuyết rơi trên ngọn núi tối tăm, theo cách giải nghĩa của một số người. Những người khác cho rằng lời này ám chỉ xương của những kẻ bị giết không được chôn cất nằm rải rác khắp xứ, khiến mặt đất trắng xóa như phủ đầy tuyết. Tuy nhiên, phân đoạn thi thiên này có lẽ nhắc đến Giô-suê 11 và 12. Sự tan tác của các vua cùng những kẻ theo họ được ví một cách thích hợp với những bông tuyết rơi nhanh trên núi Sanh-môn tăm tối. Đó là ngọn Jebel Suleiman ngày nay.
Cây gia phả
Hãy lần theo dấu vết gia đình của Sanh-môn qua nhiều thế hệ, từ tổ tiên và họ hàng đến những người có liên quan đến cuộc sống của họ. Theo dõi từng nhánh gia đình xa nhất có thể theo như Kinh Thánh ghi chép.
Biểu đồ mối quan hệ
Vị trí của Sanh-môn trong câu chuyện rộng lớn hơn của Kinh Thánh, kết nối những người, địa điểm, gia đình và sự kiện gắn liền với cuộc đời họ. Hãy xem những mối quan hệ này chồng chéo lên nhau và tạo thành một bức tranh tổng thể như thế nào thay vì những danh sách riêng lẻ.
Gia đình · 2
Cha mẹ · 1
Con cái · 1
Cuộc đời · 2
Dẫn chiếu Kinh Thánh
6 câu Kinh Thánh đề cập đến Sanh-môn
| Dẫn chiếu | Câu Kinh Thánh |
|---|---|
| Ruth 4:20 | And Amminadab begat Nahshon, and Nahshon begat Salmon, |
| Ruth 4:21 | And Salmon begat Boaz, and Boaz begat Obed, |
| 1 Chronicles 2:11 | And Nahshon begat Salma, and Salma begat Boaz, |
| Matthew 1:4 | And Aram begat Aminadab; and Aminadab begat Naasson; and Naasson begat Salmon; |
| Matthew 1:5 | And Salmon begat Booz of Rachab; and Booz begat Obed of Ruth; and Obed begat Jesse; |
| Luke 3:32 | Which was the son of Jesse, which was the son of Obed, which was the son of Booz, which was the son of Salmon, which was the son of Naasson, |
1–6 của 6 câu Kinh Thánh