Bảng các dân tộc

Sách Sáng-thế Ký chương 10 truy nguồn gốc của mọi quốc gia trong thế giới Kinh Thánh về ba người con trai của Nô-ê: Sem, Cham và Gia-phết. Dòng dõi được ghi chép đầy đủ của Nô-ê lên đến hàng nghìn người, vì vậy cây phả hệ này dừng lại ở ba thế hệ sau, cũng chính là phạm vi của sách Sáng-thế Ký chương 10.

cha mẹ

Đọc đoạn văn

Sáng-thế Ký 10 lần lượt liệt kê các con trai của Gia-phết, Cham và Sem, rồi kết lại: “lại cũng do nơi họ mà các dân chia ra trên mặt đất sau cơn nước lụt.”

Sáng-thế Ký 10:1-32

1Đây là dòng dõi của Sem, Cham và Gia-phết, ba con trai của Nô-ê; sau khi lụt, họ sanh con cái. 2Con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra. 3Con trai của Gô-me là Ách-kê-na, Ri-phát, và Tô-ga-ma. 4Con trai của Gia-van là Ê-li-sa và Ta-rê-si, Kít-tim và Đô-đa-nim. 5Do họ mà có người ta ở tràn ra các cù lao của các dân, tùy theo xứ, tiếng nói, chi phái và dân tộc của họ mà chia ra. 6Con trai của Cham là Cúc, Mích-ra-im, Phút và Ca-na-an. 7Con trai của Cúc là Sê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-ê-ma và Sáp-tê-ca; con trai của Ra-ê-ma là Sê-la và Đê-đan. 8Cúc sanh Nim-rốt, ấy là người bắt đầu làm anh hùng trên mặt đất. 9Người là một tay thợ săn can đảm trước mặt Đức Giê-hô-va. Bởi cớ đó, có tục ngữ rằng: Hệt như Nim-rốt, một tay thợ săn can đảm trước mặt Đức Giê-hô-va! 10Nước người sơ-lập là Ba-bên, Ê-rết, A-cát và Ca-ne ở tại xứ Si-nê-a. 11Từ xứ đó người đến xứ A-si-ri, rồi lập thành Ni-ni-ve, Rê-hô-bô-ti, Ca-lách, 12Và thành Rê-sen, là thành rất lớn, ở giữa khoảng thành Ni-ni-ve và Ca-lách. 13Mích-ra-im sanh họ Lu-đim, họ A-na-mim, họ Lê-ha-bim, họ Náp-tu-him, 14họ Bát-ru-sim, họ Cách-lu-him (bởi đó sanh họ Phi-li-tin), và họ Cáp-tô-rim. 15Ca-na-an sanh Si-đôn, là con trưởng nam, và Hếch, 16cùng họ Giê-bu-sít, họ A-mô-rít, họ Ghi-rê-ga-sít, 17họ Hê-vít, họ A-rê-kít, họ Si-nít, 18họ A-va-đít, họ Xê-ma-rít, họ Ha-ma-tít. Kế đó, chi tộc Ca-na-an đi tản lạc. 19Còn địa-phận Ca-na-an, về hướng Ghê-ra, chạy từ Si-đôn tới Ga-xa; về hướng Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Át-ma và Sê-bô-im, chạy đến Lê-sa. 20Đó là con cháu của Cham, tùy theo họ hàng, tiếng nói, xứ và dân tộc của họ. 21Sem, tổ phụ của họ Hê-be và anh cả của Gia-phết, cũng có sanh con trai. 22Con trai của Sem là Ê-lam, A-su-rơ, A-bác-sát, Lút và A-ram. 23Con trai của A-ram là U-xơ, Hu-lơ, Ghê-te và Mách. 24Còn A-bác-sát sanh Sê-lách; Sê-lách sanh Hê-be, 25Hê-be sanh được hai con trai; tên của một người là Bê-léc, vì đất trong đời người đó đã chia ra; tên của người em là Giốc-tan. 26Giốc-tan sanh A-mô-đát, Sê-lép, Ha-sa-ma-vết và Giê-rách, 27Ha-đô-ram, U-xa, Điếc-la, 28Ô-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba, 29Ô-phia, Ha-vi-la và Giô-báp. Hết thảy các người đó là con trai của Giốc-tan. 30Cõi đất của các người đó ở về phía Sê-pha, chạy từ Mê-sa cho đến núi Đông phương. 31Đó là con cháu của Sem, tùy theo họ hàng, tiếng nói, xứ và dân tộc của họ. 32Ấy là các họ hàng của ba con trai Nô-ê tùy theo đời và dân tộc của họ; lại cũng do nơi họ mà các dân chia ra trên mặt đất sau cơn nước lụt.
Đọc Sáng-thế Ký 10

Dạng cây gia phả đan xen

cha mẹ

Các thế hệ như một dòng thời gian

Sơ đồ gia phả tương tự như trên, được sắp xếp từ trái sang phải: mỗi cột đại diện cho một thế hệ, tổ tiên lớn tuổi nhất ở phía xa bên phải.

cha mẹ